Hiển thị các bài đăng có nhãn tuyen sinh 2013. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tuyen sinh 2013. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 2 tháng 1, 2013

Cao đẳng - Đại học ngoài công lập liệu có còn tồn tại được hay không ?


Trong quá khứ, các trường tư phát triển được là nhờ chênh lệch cung cầu khi khả năng đáp ứng của hệ thống các trường ĐH, CĐ thấp hơn nhu cầu học của xã hội. Đến nay, khi cung cầu đã cân bằng thì cơ chế khắc nghiệt này phát huy sức mạnh mang tính hủy diệt…

Các trường đại học, cao đẳng (ĐH, CĐ) công lập - ngoài học phí thu từ sinh viên còn được ngân sách nhà nước cấp kinh phí. Khi hai hệ thống trường công và trường tư cùng hoạt động, thách thức lớn các trường tư phải đối mặt là: nếu thu học phí như mức thu của trường công thì phải chấp nhận chất lượng đào tạo thấp hơn, do trường công nhờ “bù giá” cho nên suất đầu tư/sinh viên cao hơn - còn nếu chất lượng đào tạo đạt mức như trường công thì phải đảm bảo suất đầu tư/sinh viên như trường công, và do không được ngân sách nhà nước cấp tiền nên học phí sẽ cao hơn.
Các trường tư đang hoạt động trong một cơ chế khắc nghiệt: “cùng giá thì chất tồi hơn, cùng chất thì giá cao hơn”. Cơ chế này nếu áp dụng cho các lĩnh vực kinh tế khác thì chắc không có ngành kinh tế tư nhân nào sống nổi. Trong quá khứ, các trường tư vẫn sống và phát triển được là nhờ chênh lệch cung cầu khi khả năng đáp ứng của hệ thống các trường ĐH-CĐ thấp hơn nhu cầu học của xã hội. Đến nay, khi cung cầu đã cân bằng - thậm chí cung vượt cầu, thì cơ chế khắc nghiệt này phát huy sức mạnh mang tính hủy diệt.
Các trường ĐH-CĐ ngoài công lập vẫn đang bị gán cho tiếng xấu là chất lượng tồi. Cũng đúng thôi, khi ngoài việc không được “bù giá” như trường công, nhiều trường tư trong một thời gian dài hoạt động như cái bóng của trường công, khi chương trình và cách thức đào tạo sao chép từ trường công, giảng viên đa số là từ trường công chuyển sang hoặc thỉnh giảng, và lãnh đạo trường tư cũng đa phần là cán bộ quản lý trường công nghỉ hưu.
Hiện nay các trường công đang đào tạo 86% sinh viên, và do chiếm tỷ lệ sinh viên áp đảo - chất lượng giáo dục đại học Việt Nam do chính hệ thống các trường công quyết định. Nhưng “con sâu làm rầu nồi canh” - các trường tư được xã hội và ban ngành phong làm “tôi đồ”cho sự yếu kém của giáo dục đại học Việt Nam - không công bằng nhưng cũng có lý.
Năm 2012, Bộ GD-ĐT cho phép các trường được tự xác định chỉ tiêu tuyển sinh. Chỉ cần lấy số liệu chỉ tiêu đào tạo ĐH-CĐ chính quy của tất cả các trường công cộng lại (trong cuốn Những điều cần biết về tuyển sinh ĐH-CĐ năm 2012) thì sẽ có một con số ấn tượng: trên nửa triệu chỉ tiêu chính quy 2012 là thuộc về các trường công lập - chính xác là 504.074 chỉ tiêu.
Với con số chỉ tiêu trường công như vậy - không có gì ngạc nhiên khi không chỉ trường tư bị chi phối bởi “quy luật khắc nghiệt” và mang tiếng “chất lượng kém” khó tuyển sinh - mà ngay cả một số trường công “chiếu dưới” cũng đang thiếu đầu vào.
Trong khi các trường công không phải nộp thuế, thì các trường tư phải đảm bảo 55m2 đất/sinh viên, tức có 1ha đất chỉ được dạy tối đa 200 sinh viên, thì mới được nộp thuế ưu đãi. Các trường công vô tư hoạt động với diện tích đất chật chội - đặc biệt các trường trong nội thành Hà Nội và TPHCM.
Khi các trường tư ra đời, để được phép giảng dạy thì phải làm thủ tục mở ngành với các quy định mang tính “đánh đố” - đặc biệt là yêu cầu là phải có sẵn số giảng viên cơ hữu đã ký hợp đồng, trả lương, nộp bảo hiểm trước khi giảng dạy vài năm (Bộ GD-ĐT quy định khi nộp hồ sơ xin mở ngành - thường là trước khi tuyển sinh 1 năm - trường phải có đủ số giảng viên cơ hữu dạy ít nhất 70% chương trình, mỗi giảng viên cơ hữu chỉ được dạy một môn, do vậy nhiều giảng viên sẽ phải được tuyển dụng và nhận lương để 3-4 năm nữa mới đến môn mình dạy!).
Hệ thống đào tạo ĐH-CĐ công lập 10 năm qua đã được phát triển nhanh chóng đáp ứng toàn bộ nhu cầu học tập sau phổ thông. Theo số liệu của Bộ GD-ĐT, năm học 2001-2002 mới có 168 trường ĐH-CĐ công lập, dạy tổng cộng 873 ngàn sinh viên, thì con số này năm học 2011-2012 tăng lên thành 337 trường ĐH-CĐ công và đang dạy 1,873 triệu sinh viên.
Tương lai “chắc chắn chết” của các trường tư đã được vạch rõ. Hoặc chết do không có sinh viên, không đủ sức đầu tư, hoặc sẽ trở thành một dạng trường công phục vụ xã hội khi tài sản chung không thuộc nhà đầu tư trong trường tư cứ to dần hàng năm.

http://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/tuong-lai-bap-benh-cua-cac-truong-dai-hoc-cao-dang-ngoai-cong-lap-680584.htm

Chủ Nhật, 9 tháng 12, 2012

Tuyển sinh 2013 : Tự chủ giáo dục ĐH Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế


Tăng quyền tự chủ cho các trường đại học là xu hướng tất yếu để giáo dục đại học Việt Nam dần tháo gỡ được những rào cản về cơ chế và phát triển, bắt kịp trình độ của khu vực cũng như thế giới.


Bộ GD-ĐT đã giao thí điểm tự chủ ở 6 trường đại học là ĐH Ngoại thương, ĐH Kinh tế quốc dân, ĐH Kinh tế TP.HCM, ĐH Hà Nội, ĐH Mở TP.HCM và Viện ĐH Mở Hà Nội. Sau hơn 4 năm thực hiện, các đơn vị này đã đạt được những thành công nhất định nhưng vẫn còn nhiều bất cập về cơ chế cần tháo gỡ.

Tuy nhiên, theo báo cáo đánh giá của PGS.TS. Phùng Xuân Nhạ, Phó giám đốc ĐHQG Hà Nội, mức độ tự chủ đại học công lập Việt Nam hiện vẫn còn rất thấp, trong khu vực Đông Á chỉ hơn được duy nhất Campuchia.

Xu hướng chung trong khu vực và trên thế giới là tăng quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học và mỗi nước thực hiện theo các cách khác nhau, phù hợp với điều kiện xã hội, giáo dục, kinh tế của từng nước. Theo PGS.TS Phùng Xuân Nhạ, Việt Nam không nên “bê nguyên” một mô hình nào nhưng hoàn toàn có thể rút ra những đặc điểm làm bài học cho mình.

Giáo dục đại học Việt Nam vẫn còn vướng nhiều rào cản cơ chế để phát triển
Giáo dục đại học Việt Nam vẫn còn vướng nhiều rào cản cơ chế để phát triển 


Xu hướng tăng quyền tự chủ cho các trường ĐH công lập

Nhật Bản đẩy mạnh quyền tự chủ tài chính các trường đại học sau khi có luật cải cách giáo dục 7/2003 với sự khuyến khích kiểu doanh nghiệp đại học. Bắt đầu từ năm 2004, các trường đại học quốc gia tại xứ “Mặt trời mọc” lần đầu tiên được nhận kinh phí trọn gói để chi tiêu.

Singapore, nước được xếp vào hàng có thu nhập cao và nền giáo dục ĐH phát triển nhất ở Đông Nam Á, cho phép các trường đại học được tự chủ và khuyến khích các trường tìm kiếm các nguồn vốn khác, đặc biệt là doanh nghiệp kể từ năm 2006.

Từ năm 2008, Hàn Quốc cũng đã thí điểm việc tăng cường tự chủ nói chung và tự chủ tài chính nói riêng cho các trường đại học. Một số đại học lớn như ĐH Seoul được trao quyền nhiều hơn trong các quyết định tài chính của họ.

Không cho phép tự chủ hoàn toàn tất cả các mặt

Ở Nhật, tuy Bộ GD và ĐT vẫn quy định mức học phí tiêu chuẩn hàng năm nhưng đã cho phép các cơ sở giáo dục đại học nâng mức học phí lên 20% nếu muốn.

Hongkong (Trung Quốc) áp dụng tự chủ tài chính một phần trong giáo dục đại học. Các cơ sở có thể sở hữu, bán nhà cửa được hiến tặng hay tự đầu tư. Các trường đại học được vay vốn từ ngân hàng thương mại và thị trường tài chính. Tuy nhiên, các trường đại học chỉ được quyền tự ấn định mức học phí cho những chương trình trường tự đầu tư.

Một nước ở Đông Á có nền giáo dục đại học phát triển là Hàn Quốc lại có cơ chế khác. Các trường công ở nước này vẫn tiếp tục chịu sự hạn chế trong những lĩnh vực tài chính, mặc dù đã có một loạt cải cách diễn ra từ năm 2005. Ngược lại, các trường đại học tư thục lại được mở rộng tự chủ về tài chính.

Với Lào, nước được xếp vào nhóm có thu nhập thấp như Việt Nam, trường đại học quốc gia Lào được trao quyền tự chủ một phần. Cơ chế tài chính được thiết lập cho phép trường tự quản lý nguồn thu dưới sự giám sát của Hội đồng trường.

Tự chủ không có nghĩa là Nhà nước chấm dứt cấp kinh phí

Tại Singapore, chính phủ vẫn cam kết là chủ thể cấp ngân sách chính cho giáo dục đại học, các trường được tự định mức học phí và được trao quyền tự chủ hoàn toàn về nguồn nhân lực, kể cả ấn định mức lương.

Với các nước có thu nhập trung bình ở Đông Á như Thái Lan, Indonesia, Trung Quốc, Malaysia..., chính phủ trao quyền tự chủ tài chính cho một số trường đại học, dưới dạng phân bổ ngân sách công theo cơ chế tài trợ trọn gói, và cho phép cơ sở giáo dục linh hoạt hơn trong ấn định mức học phí cho một số chương trình và trong một số trường hợp.

Các trường còn được điều chỉnh mức lương cơ bản của cán bộ. Tuy nhiên, kể cả những cơ sở tự chủ vẫn bị hạn chế trong việc vay vốn thương mại và sở hữu tài sản.

Ví dụ như ở Thái Lan, các trường đại học tự chủ nhận ngân sách nhà nước thông qua chế độ phân bổ kinh phí trọn gói, được tự chủ trong xác định cơ chế quản lý và sử dụng nhân sự. Các trường này cũng được quyền quản lý, sử dụng tài sản công.

Tương tự, các trường đại học tự chủ ở Indonesia cũng được hưởng quyền tự chủ như ở Thái Lan. Về mặt pháp lý, các trường đại học tự chủ củaIndonesia cũng đã thành công trong việc áp dụng một số loại hình ngân sách cạnh tranh, ngoài các trường đại học tự chủ. Ở Malaysia, các cơ sở giáo dục đại học nước này cũng nhận ngân sách nhà nước thông qua kinh phí cấp trọn gói.

Tuy nhiên, dù là tự chủ hoàn toàn hay một phần, điều quan trọng là giao quyền tự chủ phải gắn với việc tăng cường trách nhiệm giải trình của các trường, tăng cường giám sát của nhà nước và cộng đồng với các trường qua các tiêu chí cụ thể và minh bạch, ông Nhạ nhấn mạnh.

Mạnh Hải (lược ghi)

Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2012

Phân tích câu trúc đề thi ĐH, CĐ 2013 môn Vật lí


Lại một mùa thi nữa đến gần, nhằm chuẩn bị cho các em tốt nhất cho những thời khắc quan trọng, thầy viết bài này với mong muốn chia sẻ kinh nghiệm ra đề thi, hướng dẫn học sinh ôn thi, và những khúc mắc xung quanh vấn đề “đề thi có thể sẽ như thế nào?”
.
Trước khi đi vào phân tích xem đề thi đại học (ĐH) năm tới có thể sẽ như thế nào, chứa đựng nội dung gì thì chúng ta cần nhìn lại cấu trúc của đề thi tuyển sinh ĐH gần nhất, năm 2012.
.
I. CẤU TRÚC ĐỀ THI TUYỂN SINH ĐẠI HỌC NĂM 2012
Đề thi tuyển sinh Đại học năm 2012 được phân bố như sau
  • Dao động cơ học: (9 câu)
Đề thi tập trung vào các phần chính: bài toán thời gian trong dao động, sử dụng hệ thức độc lập, con lắc lò xo, con lắc đơn ảnh hưởng bởi lực quán tính, tổng hợp dao động điều hòa (tính năng lượng dao động thông qua phương trình tổng hợp), và đặc biệt là một câu hỏi nâng  cao để phân loại học sinh.
  • Sóng cơ học: (5 câu)
Sóng cơ học là một phần hay và có thể khai thác được rất nhiều dạng bài toán mới lạ.
Đề thi chỉ khai thác ba mảng kiến thức chính là giao thoa sóng, song dừng, sóng âm và 1-2 câu hỏi lí thuyết chung về sóng cơ. Nói chung các câu hỏi thuộc phần này ở đề thi đều tương đối dễ thở.
  • Điện xoay chiều: (11 câu)
Phần điện là một trong những phần kiến thức nhiều học sinh cảm thấy khó khi bước vào phòng thi. Để làm tốt điện xoay chiều đòi hỏi học sinh phải hội tụ được nhiều yếu tố: tư duy, trí nhớ tốt và đặc biệt là khả năng giải toán nhanh nhẹn. Trong hai năm trở lại đây đề thi phần điện đều tương đối dài, có câu hỏi tận 7-8 dòng khiến học sinh đọc xong đã hoa mắt chứ chưa nói đến cần thêm thời gian để hiểu dữ kiện đề bài cho.
Những mảng kiến thức chính mà đề thi đã khai thác trong năm 2011: mạch điện xoay chiều chỉ có một phần tử, mạch điện RLC tổng quát, tính toán liên quan đến công suất và hệ số công suất, bài toán cực trị tổng hợp và bài toán về máy biến áp.
Cái khó nói chung trong điện xoay chiều thường là đề bài dài và các dữ kiện có liên quan chặt chẽ với nhau, chỉ cần không hiểu được một dữ kiện mà đề bài cho khai thác ở điểm nào thì thật khó có thể làm được bài toán đó.
Ngay cả những câu hỏi lí thuyết thuộc phần này cũng đòi hỏi tư duy và khả năng suy luận logic.
  • Dao động điện từ: (5 câu)
Trong đề thi năm 2011 có 5 câu về dao động điện từ thì có đến 4 câu là bài tập. Với nhiều học sinh thì đó thực sự là may mắn vì những câu hỏi thuộc chương này đều không quá khó khăn, có chăng là việc bấm máy tính và quy đổi đơn vị cẩn thận một chút.
  • Sóng ánh sáng: (7 câu)
Nếu so sánh với phân bố chương trình học thì nội dung đề thi của chương này không được chuẩn lắm. Đề thi có 2 câu về hiện tượng tán sắc ánh sáng (trong đó có một câu thuần về tán sắc theo lí thuyết được học, một câu có kết hợp với hiện tượng khúc xạ ánh sáng ở  chương trình lớp 11); 3 câu về thí nghiệm I-âng trong giao thoa sáng (1 câu hỏi lí thuyết và hai câu bài tập: trong đó một bài tập về trùng vân và một bài tập về dịch chuyển màn); 2 câu hỏi lí thuyết về tia hồng ngoại, tử ngoại và tia X.
Như vậy các chúng ta thấy ngay đề thi không đả động gì đến máy quang phổ và các loại quang phổ. Đó có lẽ là một kẽ hở để các thí sinh năm 2012 nắm được tủ chăng?
  • Lượng tử  ánh sáng: (6 câu)
Đề thi gồm 4 câu bài tập và 2 câu hỏi lí thuyết. Mặc dù có 4 bài tập nhưng các bài tập đều ở mức trung bình. 4 bài tập thuộc các mảng: quang điện ngoài (chỉ dùng định luật I để giải), sự phát quang; và hai bài tập về mẫu nguyên tử Bohr. Hai câu hỏi lí thuyết về quang điện trong và quang điện ngoài.
Như vậy, quan sát đề thi và nội dung trong sách giáo khoa chúng ta dễ dàng nhận ra ngay form đề thi cho chương này là quang điện ngoài (1 lí thuyết, 1 bài tập), quang điện trong (lí thuyết), sự phát quang (có thể lí thuyết và bài tập đều được), và mẫu nguyên tử Bohr (thường là 2 câu). Và so với chương trình học thì  còn một ít kiến thức nữa thuộc về Laze, thầy mong các em hãy lưu ý.
  • Vật lí hạt nhân, vi mô: (7 câu)
Nội dung đề thi gồm 5 câu thuộc mảng kiến thức về hạt nhân và hai câu hỏi về vi mô.
Các câu hỏi về hạt nhân xoay quanh các mảng kiến thức: cấu tạo, năng lượng liên kết hạt nhân (1 câu); phóng xạ (1 câu); phản ứng hạt nhân (2 câu); thuyết tương đối (1 câu).
Hai câu hỏi của phần vi mô đều rơi vào phần hệ mặt trời.
Qua việc nhìn lại đề thi của năm 2012 phần nào đã giúp chúng ta mường tượng ra đề thi năm 2013 như thế nào rồi. Tuy nhiên, có một điểm mới trong kì thi năm nay (và có thể là tin vui với các em), đó là đề thi đã được thu hẹp lại. Tức là Bộ giáo dục đã cắt giảm đi một số phần không cần thiết, và do đó giúp học sinh ôn thi hiệu quả hơn.
Tuy nhiên cái gì cũng có mặt lợi, hại của riêng nó. Thu hẹp lại thì những phần khác sẽ được tăng lên, và hỏi sâu hơn nên độ khó ắt hẳn là làm nhiều người giật mình đó.
II. MỘT SỐ NỘI DUNG GIẢM TẢI TRONG KÌ THI TUYỂN SINH ĐẠI HỌC NĂM 2013 
  • Dao động cơ: Bài toán về con lắc đơn sẽ không sử dụng đến công thức tính vận tốc v1.png
  • Điện xoay chiều:
+ Bỏ đi phần kiến thức liên quan đến các cách mắc mạch ba pha hình sao và hình tam giác đồng nghĩa với việc loại bỏ những bài toán dùng công thức v2.png
+ Phần động cơ không đồng bộ chỉ cần nhớ duy nhất định nghĩa động cơ không đồng bộ ba và đặc điểm của động cơ (tốc độ góc của khung dây nhỏ hơn tốc độ góc của từ trường quay).
  • Mạch dao động điện từ: Bỏ đi phần thuyết điện từ của Max-oen, hai giả thuyết của max-oen thì chỉ nắm được giả thuyết về từ trường biến thiên.
  • Lượng tử ánh sáng: Chỉ yêu cầu học sinh nắm được định nghĩa Laze và các đặc điểm của laze (có 4 đặc điểm).
  • Từ vi mô đến vĩ mô: Bỏ hoàn toàn.
III. PHÂN TÍCH CẤU TRÚC ĐỀ THI TUYỂN SINH ĐẠI HỌC NĂM 2013
1. Dao động cơ học (9 câu)
  • Đại cương về dao động điều hòa:
    • Các khái niệm cơ bản về dao động, các loại dao động: tắt dần, duy trì, cưỡng bức, tự do.
    • Bài toán so sánh về pha: li độ, vận tốc, gia tốc, lực hồi phục.
    • Hệ thức độc lập với thời gian.
    • Đồ thị dao động của các đại lượng đặc trưng.
    • Viết phương trình dao động.
  • Bài toán về quãng đường, thời gian trong dao động:
    • Tìm thời gian vật chuyển động ở hai li độ khác nhau, bài toán thời gian hỏi thông qua lực, năng lượng….
    • Tính quãng đường vật đi được, quãng đường lớn nhất, nhỏ nhất.
    • Bài toán về tốc độ trung bình.
    • Bài toán xác định số lần vật qua một li độ nào đó, hoặc xác định thời điểm vật qua li độ nào đó lần thứ bao nhiêu (đã khai thác trong đề thi năm 2011).
  • Con lắc lò xo:
    • Viết phương trình dao động của con lắc lò xo.
    • Bài toán lò xo dãn, nén.
    • Tìm chiều dài lò xo, tính độ lớn lực đàn hồi.
  • Con lắc đơn:
    • Viết phương trình dao động của con lắc đơn, một số dạng tính toán liên quan đến sự tăng giảm chu kỳ.
    • Hệ thức liên hệ của con lắc đơn ct21.png
    • Bài toán chu kì con lắc ảnh hưởng bởi lực điện trường, lực quán tính, ảnh hưởng bởi nhiệt độ, độ cao hoặc sự tăng giảm chiều dài… Đặc biệt chú ý dạng bài có kết hợp cả lực điện trường và lực quán tính.
  • Năng lượng dao động điều hòa:
    • Các biểu thức năng lượng của con lắc lò xo và con lắc đơn.
    • Tìm thời gian thông qua năng lượng.
  • Tổng hợp dao động điều hòa:
    • Viết phương trình dao động tổng hợp.
    • Tìm các yếu tố như vận tốc, gia tốc, năng lượng… của dao động tổng hợp (khi đó yêu cầu học sinh phải viết được phươn trình của dao động tổng hợp).
    • Bài toán tìm ngược phương trình dao dộng (tức là biết x1 và x tìm x2). Tuy nhiên các dạng bài toán này thì đều bị máy tính Casio Fx bắt bài nên xác suất thi kiểu này không cao lắm.
    • Tìm biên độ dao động thành phần để biên độ A1 hoặc A đạt max. Với các dạng toán này các em nên vẽ hình rồi dùng định lí hàm sin để giải. Chỉ một bước đánh giá cơ bản sinx < hoặc = 1 là thu được kết quả ngay. Đây là dạng bài mới mà cỏ thể xuất hiện trong đề thi. Các em nên lưu ý nhé!
  • Câu hỏi Nâng cao:
Như truyền thống trong một số năm gần đây, chương này luôn có một câu hỏi “dị” để phân loại học sinh. Với năm 2010 là câu hỏi về tốc độ cực đại trong dao động tắt dần, năm 2011 hỏi về khoảng cách giữa hai vật từ khi chúng tách nhau. Vậy đề thi năm nay sẽ có câu hỏi phân loại phần dao động cơ như thế nào? Thầy Hùng đưa ra một số gợi ý để các bạn tham khảo:
  1.  Bài toán va chạm của hai vật (chủ yếu là va chạm mềm và có dùng bảo toàn động lượng).
  2.  Bài toán tính quãng đường trong dao động tắt dần.
  3.  Bài toán về dao động duy trì.
2. Sóng cơ học (5 câu)
  • Đại cương về sóng cơ:
    • Các đặc trưng cơ bản về sóng: chu kỳ, tần số, biên độ, bước sóng, năng lượng sóng (đặc biệt chú ý về năng lượng sóng, sự tăng giảm năng lượng)
    • Viết phương trình sóng, bài toán về độ lệch pha giữa hai điểm trên phương truyền sóng.
  • Giao thoa sóng cơ:
    • Viết phương trình tổng hợp sóng.
    • Tìm biên độ tổng hợp sóng tại một điểm cho trước.
    • Tìm số điểm dao động với biên độ cho trước.
    • Bài toán tìm số điểm dao động cùng pha, ngược pha, khoảng cách giữa cực đại, cực tiểu.
  • Sóng dừng:
    • Tìm số bụng sóng, nút sóng, tần số cho sóng dừng.
    • Bài toán tìm tốc độ truyền sóng dựa vào phương trình tổng hợp sóng dừng.
    • Bài toán tìm thời gian thông qua mối quan hệ giữa li độ và biên độ của bụng sóng (đã khai thác năm 2011).
  • Sóng âm:
    • Các khái niệm về âm thanh, sóng siêu âm, hạ âm. Các đặc trưng sinh lí và vật lí của âm.
    • Bài toán tính mức cường độ âm, công suất của nguồn âm.
3. Dòng điện xoay chiều (11 câu)
Các câu hỏi về Dòng điện xoay chiều trong đề thi những năm gần đây thường chia thàh hai mảng chính: bài toán về mạch RLC (7 – 8 câu) và bài toán về máy biên áp, máy phát điện, động cơ điện (3 – 4 câu).
  • Các bài toán về mạch điện xoay chiều:
    • Mạch điện xoay chiều chỉ có một phàn tử.
    • Mạch điện xoay chiều RLC: tính toán U, Z. và viết biểu thức u, i.
    • Bài toán về công suất, tính hệ số công suất.
    • Bài toán liên quan đến hiện tượng cộng hưởng điện.
    • Bài toán về cực trị trong mạch điện xoay chiều.
    • Các bài toán về pha (đặc biệt là trường hợp mạch có các thành phần vuông pha).
  • Các bài toán về máy biến áp, máy phát điện, động cơ điện:
    • Máy biến áp.
    • Bài toán truyền tải điện năng.
    • Bài toán về từ thông, suất điện động.
    • Các bài toán liên quan đến công thức tính tần số f của máy phát điện…
    • Bài toán liên quan đến động cơ điện.
4. Dao động điện từ (5 câu)
Trong chương trình học, các nội dung về mạch dao động tương đối ít, và đây có thể coi là phàn gỡ lại điểm số cho chương Điện. Các em nên chú ý một số dạng sau:
  • Bài toán về mạch dao động:
    • Tính chu kỳ, tần số của mạch dao động khi tự C ghép nói tiếp, song song.
    • Tính i, q, ω dựa vào hệ thức liên hệ của chúng.
  • Bài toán năng lượng của mạch dao động:
    • Tính toán năng lượng điện trường, từ trường, sự biến thiên của chúng.
    • Bài toán liên quan đên thời gian trong mạch dao động (phần này tương tự như trong dao động cơ).
    • Đặc biệt, các em hãy lưu ý về dạng bài tập mắc tụ song song hoặc nối tiếp với khóa k. Khi mở và đóng khóa k thì năng lượng của mạch như thế nào, trong các đề thi gần đây thầy vẫn thường khai thác rồi nhé!
  • Sóng điện từ, điện từ trường, sóng vô tuyến: Đây là phần lý thuyết, các em cứ học kĩ sách giáo khoa là ổn.
5. Sóng ánh sáng (7 câu)
  • Tán sắc ánh sáng: (2 câu)
    • Các khái niệm cơ bản về tán sắc ánh sáng, ánh sáng trắng, ánh sáng đơn sắc.
    • Nguyên nhân của hiện tượng tán sắc ánh sáng (chiết suất của lăng kính có giá trị khác nhau với các ánh sáng đơn sắc khác nhau)
    • Bài toán tán sắc kết hợp với khúc xạ ánh sáng.
    • Bài toán tính độ rộng vùng quang phổ thu được trên màn…
  • Giao thoa ánh sáng: (3 câu)
    • Bài toán tìm số vân sáng, vân tối.
    • Bài toán trùng vân.
    • Bài toán giao thoa với ánh sáng trắng.
  • Quang phổ: (1 câu)
    • Máy quang phổ
    • Quang phổ liên tục, quang phổ vạch, quang phổ hấp thụ: cần phải nắm được về cấu tạo, nguồn phát, đặc điểm quan trọng và một số ứng dụng thường gặp
  • Các loại tia: (1 câu)
    • Các loại tia: hồng ngoại, tử ngoại, tia X: nắm được về định nghĩa, bản chất và một số các ứng dụng
    • Thang sóng điện từ: sắp xếp các bức xạ theo thứ tự tăng, giảm của chu kỳ hoặc tần số.
6. Lượng tử ánh sáng (6 câu)
  • Hiện tượng quang điện ngoài: (2 câu)
    • Khái niệm về hiện tượng quang điện ngoài, các định luật quang điện
    • Thuyết lượng tử ánh sáng.
    • Bài toán về điều kiện xảy ra hiện tượng quang điện ngoài.
  • Hiện tượng quang điện trong, quang dẫn, pin quang điện: (1 câu)
    • Nắm được khái niệm về hiện tượng quang điện trong, so sánh sự giống nhau và khác nhau giữa hiện tượng quang điện trong và quang điện ngoài.
    • Nắm được về chất quang dẫn, hiện tượng quang dẫn, pin quang điện và quang điện trở.
  • Hiện tượng quang – phát quang: (1 câu)
    • Nắm được khái niệm về hiện tượng phát quang, một số hiện tượng phát quang thường gặp.
    • Phân biệt được huỳnh quang, lân quang.
    • Các bài toán về hiện tượng phát quang, hiệu suất phát quang…
  • Mẫu nguyên tử Bohr: (2 câu)
    • Nắm hai tiên để của Bohr về trạng thái dừng và sự bức xạ, hấp thụ năng lượng.
    • Công thức tính bán kính quỹ đạo của electron.
    • Bài toán về tính mức năng lượng của nguyên tử ứng với các trạng thái dừng, lưu ý về mức năng lượng lớn nhất, nhỏ nhất tương ứng với bước sóng dài nhất, nhỏ nhất trong các dãy.
    • Thuộc lòng cách tính các bước sóng ở các dãy Lyman, Banme, Pasen.
7. Vật lí hạt nhân (7 câu)
  • Độ hụt khối, năng lượng liên kết, năng lượng liên kết riêng của hạt nhân: (1 câu)
    • Tính năng lượng liên kết của hạt nhân.
    • Bài toán so sánh tính bền vững của các hạt nhân dựa vào năng lượng liên kết riêng.
  • Bài toán về động năng tương đối của hạt chuyển động: (1 câu)
    • Nhớ công thức tính động năng
ct22.png
  • Phóng xạ: (2 câu)
    • Nắm được lí thuyết về các tia phóng xạ.
    • Các bài toán liên quan đến phần trăm số hạt, phần trăm khối lượng.
    • Bài toán liên quan đến số hạt, khối lượng hạt nhân con.
  • Phản ứng hạt nhân: (2 câu)
    • Các định luật trong phản ứng hạt nhân.
    • Các công thức tính năng lượng của phản ứng hạt nhân.
    • Bài toán tính động năng của các hạt.
    • Bài toán tính góc hợp bởi phương chuyển động của các hạt.
  • Sự phân hạch, nhiệt hạch: (1 câu)
    • Nắm được thế nào là phân hạch, nhiệt hạch, điều kiện xảy ra.
    • Phản ứng dây chuyền trong sự phân hạch.
    • Bài toán tính năng lượng phản ứng, tính khối lượng nhiên liệu thực hiện phản ứng.
Nguồn:  Thầy Đặng Việt Hùng

Thứ Hai, 3 tháng 12, 2012

Sinh viên thức trắng đêm lạnh đăng ký tín chỉ


Đêm 1/12, hàng loạt sinh viên năm nhất ĐH Nông nghiệp đã thức trắng ôm máy tính, vật vã chờ đăng ký tín chỉ, một số bạn còn thức đến chiều hôm sau mới hoàn tất.


Vật vã trắng đêm đăng ký tín chỉ
Theo quy định, các sinh viên sẽ tự đăng ký môn học cho mình từ kỳ thứ hai của năm đầu tiên. Đào tạo đại học theo hình thức tín chỉ giúp sinh viên chủ động hơn trong việc lập kế hoạch học tập cũng như các dự định của cá nhân.
Tuy nhiên, khi các trường áp dụng vào thực tế, sinh viên rất vất vả để có thể đăng ký được môn học, chưa nói đến việc đăng ký được những môn mình dự định học và lớp học mình thích.
Trước khi kỳ học mới bắt đầu, các sinh viên đào tạo theo hình thức tín chỉ phải tự đăng ký môn học, lớp học, thời gian học. Vì vậy, việc các bạn buộc phải túc trực, chờ đợi để có thể đăng ký được sớm nhất sẽ đảm bảo được học đầy đủ các môn mình mong muốn, được học giảng viên mình thích và thời gian học phù hợp.
Theo phản ánh của một số sinh viên trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, vào tối 1/12 vừa qua, các bạn đã phải thức trắng đêm, “canh” hệ thống đăng ký môn học của trường từ lúc bắt đầu mở, vậy mà nhiều khi vẫn không thể đăng ký được ngay mà phải chờ đến sáng thậm chí thức đến chiều 2/12.
Sinh viên thức trắng đêm lạnh đăng ký tín chỉ 1
Các sinh viên K57 ĐH Nông nghiệp tụ tập rất đông tại trường đêm 1/12 để chờ đăng ký.
Bạn Minh (sinh viên ĐH Nông nghiệp) cho biết: “Bạn nào may mắn thì tầm 2h sáng là đăng ký xong, còn chúng em phải chờ đến tận sáng”. Có bạn sinh viên còn chia sẻ “bạn em phải thức đến tận chiều chờ đăng ký xong mới được đi ngủ, nên rất mệt”.
Sinh viên thức trắng đêm lạnh đăng ký tín chỉ 2
Mỗi sinh viên phải mang ít nhất một laptop để túc trực đăng ký
Việc đăng ký tín chỉ của sinh viên còn dẫn đến rất nhiều tình huống “dở khóc dở cười”. Bạn Lan (sinh viên ĐH Nông nghiệp) chia sẻ: “Nhà trường cho chúng em đăng ký bắt đầu từ 0h ngày 1/12. Đêm hôm đó, từ ký túc xá, đến thư viện, giảng đường đâu cũng thấy các bạn sinh viên ngồi chờ đăng ký”.
Sinh viên thức trắng đêm lạnh đăng ký tín chỉ 3
Các hành lang thư viện, giảng đường chật kín sinh viên.
Sinh viên thức trắng đêm lạnh đăng ký tín chỉ 4
Sinh viên thức trắng đêm lạnh đăng ký tín chỉ 5
Lý do các sinh viên đưa ra đó là do mạng của trường tốt hơn, đăng ký được nhanh hơn mạng ở nhà nên dù không ở ký túc xá, đêm hôm đó các bạn vẫn túc trực ở xung quanh trường.
Sinh viên thức trắng đêm lạnh đăng ký tín chỉ 6
Sinh viên tận dụng mọi nơi có thể ngồi chờ đăng ký.
Sinh viên thức trắng đêm lạnh đăng ký tín chỉ 7
Đợi chờ trong mưa lạnh mùa đông
Nữ sinh này còn cho biết có nhiều bạn mang theo chăn, chiếu đến ngồi túc trực, có bạn mang đài đến nghe cả đêm, thậm chí một số người bán hàng khi thấy sinh viên thức đêm ở trường còn mang đồ ăn vào bán…
Nguyên nhân chính của tình trạng này là do các bạn sinh viên, nhất là sinh viên năm đầu, đều có tâm lý lo lắng nếu không đăng ký nhanh sẽ hết lớp, không học được môn cần học.
Sinh viên thức trắng đêm lạnh đăng ký tín chỉ 8
Hoàn tất nhưng chưa đúng như mong muốn
Tuy nhiên, theo phản ánh chung của các bạn sinh viên đa phần các bạn đều đã đăng ký được các môn học của mình cho kỳ tới.
Bạn Minh cho biết: “Nhà trường cũng tạo điều kiện cho chúng em đăng ký bằng nhiều cách, nếu bạn nào không đăng ký được ngay thì sau một tuần sẽ có đợt đăng ký bổ sung, các bạn còn có thể đăng ký offline”.
Đặc biệt các bạn cho biết, hiện tại nhà trường cũng đã nâng cấp mạng và hệ thống nên việc đăng ký tín chỉ cũng dễ dàng hơn nhiều.
Mặc dù vậy, dù đăng ký thành công nhưng nhiều sinh viên vẫn phải ngậm ngùi vì không được học đúng giảng viên mà mình mong muốn và đành phải lựa chọn lớp học khác.
Khi nhận được phản ánh từ sinh viên, chúng tôi đã liên lạc với ông Nguyễn Văn Dung – phụ trách Ban Quản lý Đào tạo trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội để tìm hiểu về sự việc.
Lý giải về việc này, ông Nguyễn Văn Dung khẳng định tất cả các sinh viên của trường đều đăng ký được môn học và việc sinh viên chưa đăng ký được môn học theo ý muốn ví như “buổi sáng đi chợ chỉ đông một lúc thôi”.
Bên cạnh đó, ông Nguyễn Văn Dung cũng cho biết hiện tại đã không có tình trạng sinh viên vật vã trắng đêm để đăng ký môn học.
Trong những năm gần đây, không chỉ sinh viên ĐH Nông nghiệp mà ở một số ĐH khác cũng diễn ra tình cảnh tương tự khi thời gian "mở mạng đăng ký" tín chỉ bắt đầu.

Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2012

Nhận bằng đại học chỉ sau 3 năm

Tháng 12, bốn sinh viên Trường ĐH Nông lâm TP.HCM sẽ nhận bằng ĐH chỉ sau ba năm học tại trường. Bí quyết của các bạn ở đâu?
"Tôi đã lên kế hoạch học tập cụ thể cho mình và đã tiết kiệm được một năm học"
NGUYỄN THỊ BÍCH HUỆ
- Ảnh: NHƯ HÙNG
"Lê Vũ cho rằng điều kiện kinh tế khó khăn là động lực để Vũ học vượt, ra trường sớm"
Ảnh: HÀ BÌNH
" Muốn học vượt, bạn cần xem xét đến sức khỏe, quỹ thời gian và năng lực học tập"
 PHẠM THỊ TOÀN LANH
- Ảnh: HÀ BÌNH

Đầu năm học này, khi các bạn cùng khóa 2009-2013 bước vào năm học cuối thì Nguyễn Thị Bích Huệ (ngành quản trị kinh doanh thương mại Trường ĐH Nông lâm TP.HCM) đã tốt nghiệp và đang làm việc toàn thời gian cho một công ty chuyên về marketing online.
Tiết kiệm một năm
Cô SV quê Cẩm Mỹ, Đồng Nai kể khi vào năm nhất, bạn chưa biết về tín chỉ và có thể ra trường trước thời hạn. Khi nghe giảng viên nói SV tích lũy đủ tín chỉ sẽ được ra trường sớm, Huệ quyết định thử sức. “Biết tôi ấp ủ dự định học ĐH trong ba năm, anh của tôi đang học ĐH và bạn bè đều cho rằng tôi viển vông. Nhưng sau khi tham khảo ý kiến từ thầy cô cố vấn học tập, cách lựa chọn, đăng ký môn học, tôi đã lập kế hoạch học tập để đi đến mục tiêu của mình” - Huệ nhớ lại.
Để hoàn thành 135 tín chỉ cho chương trình ĐH, Huệ cho biết mỗi học kỳ bạn đăng ký 25 tín chỉ. Nghỉ hè, khi bạn bè cùng lớp về quê thăm gia đình thì Huệ ở lại trường đăng ký học thêm.
 Huệ cho biết: “Trước khi đến lớp, tôi tranh thủ coi bài ở nhà và dành toàn bộ thời gian để nghe giảng. Tôi thấy điều SV cần nhất ở giảng viên là kiến thức thực tế chứ lý thuyết đã có trong sách rồi.
Chính những đề thi mở, đòi hỏi SV phải tìm hiểu kiến thức từ thực tế đã cuốn hút tôi vào bài học nên tôi luôn học một cách thoải mái nhất”.
Sau hai năm rưỡi “vừa học vừa chơi”, vừa đi dạy kèm, tham gia câu lạc bộ phát thanh... Huệ đã hoàn thành chương trình ĐH. Sáu tháng sau đó, Huệ làm khóa luận tốt nghiệp và ra trường. “Tôi đã lên kế hoạch học tập cụ thể cho mình và nay đã tiết kiệm được một năm học. Tôi có thể đi làm sớm và thực hiện tiếp những dự định khác” - Huệ nói.
Kết hợp nhiều yếu tố
Trong khi đó, điều kiện kinh tế khó khăn là động lực lớn nhất để bạn Lê Vũ - sinh viên ngành kinh tế Trường ĐH Nông lâm TP.HCM - quyết tâm phải ra trường sớm để tiết kiệm chi phí ăn học. Sau ba năm học, hiện Vũ đã đi làm công việc kinh doanh cho một công ty và chuẩn bị học thêm văn bằng hai về công nghệ sinh học.
Học nhiều hơn bình thường, Vũ còn đi làm bảo vệ buổi tối trong dịp hè để trang trải việc học. Vừa học vừa làm nhưng Vũ đã tốt nghiệp loại giỏi và luận văn tốt nghiệp của bạn đạt 8,7 điểm. Chàng SV quê Sơn Tịnh, Quảng Ngãi cho biết: “Học kỳ đầu tiên mình đăng ký 16 tín chỉ, thấy còn dư nhiều thời gian nên đăng ký lên 19, rồi 25 tín chỉ.
Ở năm nhất, năm hai việc học vẫn nhẹ nhàng nhưng cực nhất là năm ba. Nhiều môn học mà môn nào cũng làm tiểu luận nên nhiều đêm phải thức trắng làm cho kịp”. Theo Vũ, khi quyết định học vượt, SV phải xác định năng lực học tập, quỹ thời gian của mình xem có theo nổi hay không. “Quan trọng nhất là phải có động lực để cố gắng” - Vũ kết luận.
Được tốt nghiệp khi tích lũy đủ học phần
Quy chế 43 về đào tạo theo học chế tín chỉ của Bộ GD-ĐT quy định: “Điều kiện xét tốt nghiệp, công nhận tốt nghiệp khi SV tích lũy đủ số học phần quy định cho chương trình đào tạo với: khối lượng không dưới 180 tín chỉ đối với khóa đại học 6 năm, 150 tín chỉ đối với khóa đại học 5 năm, 120 tín chỉ đối với khóa đại học 4 năm.
Hiệu trưởng quy định cụ thể khối lượng kiến thức tối thiểu cho từng chương trình được triển khai đào tạo trong phạm vi trường mình”. Theo đó, tùy theo sức học của mình, SV có thể đăng ký học vượt để tốt nghiệp trước thời hạn.

Cùng lớp với Vũ, bạn Phạm Thị Toàn Lanh cũng đã tốt nghiệp sau ba năm học. Lanh cho rằng khi quyết định học vượt, bạn xem xét đến những khía cạnh như sức khỏe, quỹ thời gian, năng lực học tập của mình.
 “Phải có kế hoạch học tập ngay từ đầu thì mới có thể hoàn thành việc học trước thời hạn - Lanh nói - Ngoài ra, cần phải có sự tư vấn thêm từ thầy cô, cố vấn học tập. Học vượt phải đi học, thực tập với anh chị khóa trên. Phải làm việc nhóm thường xuyên với lớp mới nên nhiều khi có những xung đột rất khó hòa giải”.
Theo Lanh, khó khăn lớn nhất là sắp xếp thời gian hợp lý để có thể học tốt. Bạn nói thêm: “Dù đã chuẩn bị kỹ kiến thức cơ bản để vào chuyên ngành nhưng đôi khi vẫn bị quên, phải tìm tài liệu xem lại.
Vào lớp, mình thường xuyên “xí” chỗ ngồi đầu bàn để chăm chú lắng nghe thầy cô giảng bài. Buổi sáng mình đến trường học đến khi nào thư viện đóng cửa mới về. Mùa hè mình cũng ở lại trường để học thêm”. Ngoài giờ học, Lanh còn tranh thủ đi phục vụ suất ăn công nghiệp để kiếm tiền trang trải việc học.
Tạo điều kiện cho SV giỏi
TS Trần Đình Lý - trưởng phòng đào tạo Trường ĐH Nông lâm TP.HCM - cho rằng đào tạo theo học chế tín chỉ thể hiện sự phân hóa rất cao trong SV, tạo cơ hội cho SV giỏi thể hiện và khẳng định năng lực của họ.
Số SV học vượt trong thời gian 3-3,5 năm tại trường nhiều hơn trước nhưng đồng thời số SV bị buộc thôi học cũng không ít.
Chính từ sự phân hóa ấy, TS Lý cho rằng SV phải biết lượng sức mình, đưa ra kế hoạch học tập toàn khóa học và lên kế hoạch học vượt.
Trong khi đó, TS Nguyễn Kim Quang - Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐHQG TP.HCM) - lưu ý SV học vượt phải học nhiều môn trong mỗi học kỳ so với bình thường nên đòi hỏi SV phải thật sự có năng lực.
Với SV có sức học trung bình, nếu đăng ký học vượt sẽ gặp nhiều khó khăn và kết quả có thể không cao. “SV cần cân nhắc xác định tốc độ học tập của mình. Nếu không có nhu cầu ra trường sớm thì không nên chọn việc học với tốc độ cao vì rất dễ đuối sức và sẽ không hoàn thành tốt kế hoạch học tập. Ngược lại những SV giỏi cần được khuyến khích học vượt để họ đạt được trình độ cao ở lứa tuổi còn trẻ...” - TS Quang nói.
TRẦN HUỲNH - HÀ BÌNH